Sự gia tăng dân số ở Việt Nam dẫn đến tình trạng đất chật người đông

Sự gia tăng dân số ở Việt Nam dẫn đến tình trạng đất chật người đông

Khoa học Khoa học đời sống Sự kiện nổi bật Văn hóa Xã hội

Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta sẽ phải giật mình khi tình cờ bắt gặp những thông tin về mức tăng dân số rất đáng âu lo của nước ta.

Sự bùng nổ dân số ở một nước đất hẹp người đông, mà nền kinh tế cho đến này chủ yếu vẫn trông chờ vào sản xuất nông nghiệp và đang cố vượt thoát danh sách những quốc gia đói nghèo.  

Số liệu thống kê về mức tăng dân số ở Việt Nam

Số liệu của Tổng cục thống kê cho thấy vào năm 1976, tức là sau ngày đắt nước thống nhất, dân số VN mới 49 triệu người, vậy mà 22 năm sau đã lẽn đến 78 triệu, tức tăng thêm 29 triệu người. Tính ra mỗi năm dân số tăng bình quân 1,3 triệu, với đà này thì dân số của nước ta sẽ lên đến 100 triệu người vào năm 2010 và đến năm 2020 sẽ là 120 triệu, gấp đôi dân số năm 1980. Một nguồn khác cho thấy vào năm 1930, VN chỉ mới có 17,6 triệu dân, so với số dân hiện có thì trong vòng 48 năm dân số nước tạ đã tăng hơn 4,3 lần trong khi dân số thế giới cùng thời gian này chỉ tăng 3 lần.

Biểu đồ thống kê mức tăng dân số ở Việt Nam

Người VN ta thường nói “Trời sinh voi sinh cỏ”, tập quán suy nghĩ đó đã làm cho dân số có thời kỳ được xem là bùng nổ và nếu không nhờ vào sự tháo gỡ cơ chế sản xuất nông nghiệp vào những năm đầu thập niên 80 thì chúng ta đã lâm vào cảnh cỏ không có đủ cho voi ăn. Đối với các nước sống nhờ vào nông nghiệp thì lương thực và dân số là hai mặt tác động vào nhau và khi khả năng tăng sản lương lương thực không còn thì tất yếu nền kinh tế phải chuyển thể mạnh sang hướng khác.

Trước khi từ giã thế kỷ 20, trong bao nhiêu thử thách phải đối phó vẫn còn thử thách về mức tăng dân số vẫn còn cao so với thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua đã khiến chúng ta nhìn lại tiềm năng thực tệ của mình và đã tập trung vào kinh tế nông nghiệp trong một cố gắng bảo đảm an ninh lương thực để hạn chế các xáo trộn trong đời sống kinh kế xã hội. Với mục tiêu này thì kết quả chỉ đạt được khi cùng lúc làm được hai việc: giảm tốc độ tăng trưởng tự nhiên về dân số và tăng tốc độ sản xuất lương thực. Năm 1976 nước ta có 49 triệu người, sản lượng lương thực là 13,4 triệu tấn, bình quân lương thực là 274 kg/người.

Sản lượng lương thực đầu người khá cao

Năm 1980 dân số tăng đến 53,7 triệu thì sản lượng lương thực là 14,3 triệu tấn, mức bình quân lương thực xuống còn 267 kg/người. Đó là thời kỳ khó khăn nhất của chúng ta với những năm tháng “ăn độn”, phải nhập đến 1,2 triệu tấn lương thực mỗi năm vì tốc độ tăng dân số ở mức 2,25% trong khi tốc độ tăng lương thực chỉ ở mức 1,6%. Thời kỳ 1981-1985, dưới tác động của việc tháo gỡ cơ chế trong nông nghiệp, lương thực đã tăng thêm 3,6 triệu tấn, trong khi dân số tăng thêm 5,9 triệu người, đưa mức bình quân lương thực đầu người lên đến 300 kg/năm và được xem là đạt được mức an toàn lương thực.

Tốc độ tăng dân số tự nhiên ở nông thôn khá cao

Đóng góp vào thành quả này phải nói đến những cố gắng của Nhà nước qua chương trình kế hoạch hóa gia đình nhiều năm trước đó. Vào năm 1985, tốc độ tăng dân số tự nhiên của một số vùng dừng lại ở mức dưới 2%/ năm như đồng bằng sông Hồng (1,89%), duyên hải miền Trung (1,99%), miền Đông Nam bộ (1,93%). Dù thế ở vựa lúa ĐBSCL tỷ lệ tăng dân vẫn còn cao với 2,32%, Tây Nguyên2,6%. Từ đó đến nay, sản xuất nông nghiệp ngày càng được cởi trói đã làm cho tương quan giữa dân số và lương thực được cải thiện.

Sau bước đột phá 332 kg lương thực một người vào năm 1989, chúng ta gia nhập vào danh sách các nước xuất khẩu gạo hàng đầu với 1,4 triệu tấn và đến năm 1998, khi mức bình quân lương thực lên đến con số cao nhất từ trước đến nay là 408 kg/người, thì lượng gạo xuất khẩu đã là 3,8 triệu tấn. Nhưng liệu bức tranh nông nghiệp đầy màu sắc ấy có cho chúng ta niềm lạc quan lâu dài hay không khi mà cả nước chỉ có 7,7 triệu hecta đất nông nghiệp, 80% dân số ở nông thôn trong đó 70% sống bằng nghề nông, rõ ràng chúng ta đang đứng trước không ít thách thức khi bước vào thiên niên kỷ mới.

Nhu cầu sử dụng đất của người dân tăng cao

Một trong những thử thách ấy là quỹ đất nông nghiệp không có khả năng tăng thêm. Cụ thể như ĐBSCL, vùng trọng điểm lương thực chiếm hơn 40% sản lượng lương thực cả nước, theo số liệu của Tổng cục địa chính hiện nay chỉ còn chưa đến 200 000 hecta có thể khai hoang với điều kiện phải có nguồn nước ngọt. Vùng ĐBSCL năm nay đang bị nhiễm mặn nặng nề do lượng nước sông Mekong đổ về ngày càng ít (vì các quốc gia thượng nguồn như Trung quốc, Thái Lan, Lào xây quá nhiều đập thủy điện và các công trình thủy lợi, đó là chưa kể Campuchia đang được khuyến khích trồng lúa nước; khi ấy lượng nước sông Mekong đổ về sẽ còn kém hơn).

Tình trạng phá rừng để làm nhà ở và dùng cho nhu cầu riêng

Mới đây, nhà nông học có uy tín, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân – đã báo động về tình trạng ngăn nước mặn để trồng lúa là chuyện lợi bất cập hại, do nước không ra vô được, phèn đọng lại làm lúa không phát triển tốt, trong khi đó lại mất điều kiện tự nhiên để phát triển nghề nuôi tôm. Ông mạnh dan kêu gọi: “Không nên chạy theo tiếng gọi của cây lúa”. Hiện nay, sản lượng lương thực của chúng ta có dấu hiệu chựng lại do nhiều vùng năng suất cây trồng đã tiếp cận với năng suất tiên tiến của thế giới. Đó là chưa kể tốc độ công nghiệp hóa thời gian qua đã khiến chúng ta mỗi năm mất đi khoảng 30 (XX) hecta đất nông nghiệp cho các dự án phát triển hạ tầng và xây dựng các đô thị.

Không những thế, theo đánh giá của Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên, mỗi năm nước ta mất khoảng từ 100 đến 200 ngàn hecta rừng do người di dân tự do khai phá, ảnh hưởng đến môi sinh, làm cạn kiệt nguồn nước cho nông nghiệp, gây đói kém cho hàng triệu dân. Trong tình hình ấy liệu chúng ta có thể duy trì được mức tăng sản lượng lương thực 4 – 5%/năm như mười năm qua hay không? Các chuyên gia nông nghiệp dự báo, bước vào thế kỷ 21, sản lượng lương thực của chúng ta chỉ có thể tăng khoảng2%/ năm và điều gì sẽ xảy ra, nếu tốc độ tăng dân số cũng ở mức tương tự?

Người dân rủ nhau lên thành phố lập nghiệp

Đó sẽ là tình trạng nghèo khó của 80% số dân gắn bó với nông thôn, ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển chung của đất nước. Đất hẹp người đông, những năm gần đây đội quân thất nghiệp ở nông thôn đã ồ ạt dọn về các đô thị dẫn đến áp lực dân số căng thẳng ở các nơi này gây ra nhiều tình hình phức tạp. Các số liệu thống kê cho thấy tại Hà Nội hiện nay, lao động các tỉnh đến kiếm việc làm vào khỏang 300.000 người, tức tăng gấp ba lần so với sáu năm trước đây. Tại TP.HCM, theo số liệu của Sở lao động thương binh và xã hội hiện có hơn 700 000 người từ các tỉnh đổ về tìm việc trong khi tình trạng thiếu việc làm, trẻ em lang thang ở đây vẫn còn nghiêm trọng.

Người dân ở nông thôn kéo nhau lên thành thị kiếm việc làm

Tất nhiên lực lượng này là người lao động phổ thông bổ sung cho các dự án phát triển, nhưng nhiều năm qua mức độ giải quyết việc làm tại TP HCM cũng chưa vượt quá con số 200 000 người. Vào tháng 7 năm ngoái, “Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2 000” đã được phê duyệt, theo đó Chính phủ phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 1,3 đến 1,4 triệu lao động, con số này tương ứng với dân số phát sinh hàng năm. Chương trình này nhằm giảm bớt, tỷ lệ thất nghiệp ở các thành phố xuống còn 5% (hiện nay vào khoảng 8%) và nâng tỷ lệ lao động có việc làm ở nông thôn lên 75%.

Kinh phí dự trù cho chương trình này đến năm 2000 lên đến 4.800 tỷ đồng. Để chương trình này đạt kết quả cao, tất nhiên Chính phủ phải cùng một lúc giải quyết rất nhiều vấn đề% thực hiện nhiều kế hoạch phát triển kinh tế khác, nhưng ưu tiên vẫn là các vấn đề xuất phát tại nông thôn. Trong một báo cáo của Ngân hàng thế giới nhân Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho VN vào tháng 12 năm ngoái, tổ chức này cho rằng việc xóa bỏ những hạn chế thị trường là cách làm có thể thực hiện được ngay mà không tốn kém nhằm phát triển nông thôn.

Theo các nhà tài trợ, những hạn chế sử dụng đất nông nghiệp bao gồm việc thay đổi cơ chế quản lý đất đai, cho nông dân đa dạng hóa sản phẩm hoặc chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp, bỏ hạn ngạch xuất gạo sẽ có lợi hơn, nhờ đó mà cơ cấu lao động được chuyển đổi, số người tham gia vào hoạt động dịch vụ và chế biến nhiều hơn. Theo Ngân hàng thế giới, mối lo ngại chính đáng của VN về an ninh lương thực có thể được giải quyết tốt nhất bằng cách tăng năng suất lao động và tăng thu nhập ở nông thôn, cải thiện khả năng tiếp cận mối quan hệ thị trường và các nguồn tín dụng dài hạn mà không nhất thiết phải tập trung nguồn lực vào việc trồng lúa để cung cấp cho lượng dân số ngày càng đông. Tất nhiên đây cũng chỉ là một nhận định có tính tham vấn cho Chính phủ.

Tìm biện pháp để tăng trưởng dân số hợp lý

Ngoài ra, công nghiệp hóa nông thôn cần được thúc đẩy bằng cách nâng cấp hệ thống giao thông các vùng nông thôn cũng như giữa vùng nông thôn với các đô thị, tạo thị trương lớn cho nông sản và giúp ngành công nghiệp tiết kiệm chi phí cho sản xuất. Nông thôn phát triển sẽ là thị trường lớn của hàng hóa từ các thành thị, có khả năng tạo động lực phát triển đồng bộ cho cả hai địa bàn dân cư lâu nay có khoảng cách khá lớn về múc sống. Thế nhưng, một biện pháp hết sức cấp bách có khả năng quyết định sự thành công của các chương trình phát triển toàn diện nền kinh tế là khống chế mức tăng dân số ở mức thấp nhất có thể được.

Hiện nay, với những cố gắng của Chính phủ qua công tác kế hoạch hóa gia đình đã đưa tỷ lệ sinh từ 3% vào năm 1988 xuống khoảng 2% vào năm 1998. Những cố gắng của Chính phủ đã làm cho mọi người nhận thức sâu sắc rằng việc giảm áp lực gia tăng dân số đồng thời cũng là cách nâng cao chất lương cuộc sống trong một quốc gia đất hẹp người đông.

Nguồn tổng hợp