Những áp chế và kì thị đối với phụ nữ thời phong kiến

Những áp chế và kì thị đối với phụ nữ thời phong kiến

Đời sống Gia đình Sự kiện nổi bật Tâm sự Văn hóa Xã hội

Luật lệnh là những quy tắc ứng xử bắt buộc phải tuân theo, thường áp dụng chung trong xã hội, tuy nhiên có những điều luật, mệnh lệnh được ban bố chỉ nhằm vào một nhóm đối tượng cụ thể, đó là phụ nữ.

Trong xã hội phong kiến, phụ nữ bị xem là nguồn gốc của mọi tội lỗi, là tượng trưng của trụy lạc và tà ác.Những áp chế và kì thị đối với phụ nữ thời phong kiến, nữ giới thường phải chịu nhiều áp chế từ phía nam giới, đó chính là sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Có một số câu tục ngữ có vẻ đề cao và tôn trọng người phụ nữ, ví dụ như: “Nam bất đồng nữ đấu, kê bất đồng cẩu đấu” (Nam không bằng nữ như gà không bằng chó), hay “Nam nhân bất vấn nữ nhân tật”(Đàn ông không nói đến tật của đàn bà)… nhưng thực tế, những câu tục ngữ này là một loại biểu hiện của chủ nghĩa đại nam tử. Những người tuân theo thứ tín ngưỡng này không phải vì tôn trọng nữ giới, mà vì sợ quyền uy của nam giới bị lung lay. Đây chẳng qua cũng chỉ là một hình thức biểu hiện khác của việc xem thường phụ nữ. Điều đó khiến sự tổn thương và nỗi tủi hổ về tâm lý của phụ nữ càng trở nên trầm trọng hơn.

Thời xưa, việc xem thường phụ nữ được thể hiện trên nhiều phương diện của cuộc sống, chẳng hạn như chuyện nữ giới không được tham dự vào các công việc của nam giới. Dân tộc Thái kiêng kỵ việc phụ nữ tham gia hội khiêu vũ của nam giới, phụ nữ cũng không được sử dụng các nhạc khí. Khi nam giới nói chuyện thì những cô gái trẻ không được xen vào, trừ những phụ nữ lớn tuổi. Phụ nữ tộc Hán thời xưa bị hạn chế nghiêm khắc những công việc ở bên ngoài ngôi nhà của mình như kỵ việc rong chơi, la cà; cho nên người ta mới có câu: “Phụ bất nhàn du, trạch tứ bất tương thông” (Phụ nữ không rong chơi, nhà tiệm không thông nhau). Những phụ nữ la cà sang nhà hàng xóm sẽ bị mọi người đàm tiếu, chỉ trích là hạng đàn bà buông tuồng. Với dân tộc Miêu, phụ nữ cũng không được ngồi lê đôi mách, bởi người ta cho việc ấy xúc phạm đến môn thần nhà người khác. Phụ nữ tộc Dao kiêng lân la sang nhà hàng xóm vào dịp tết nhất, bởi họ tin rằng ra khỏi nhà vào thời gian này sẽ làm nảy sinh nhiều tật bệnh.

Những áp chế và kì thị đối với phụ nữ thời phong kiến - Ảnh 1

Phụ nữ dân gian Quảng Tây bước ra khỏi nhà phải mang khăn đội mũ, không được để lộ mặt và đầu, không trang điểm lẳng lơ, dường như người ta cho rằng việc phụ nữ để lộ dung nhan tự nhiên là can tội dâm đãng. Và chuyện “phụ nữ không vô cớ ra khỏi nhà, không được câm cày, không phát lương, không buôn bán nơi phố phường” đã trở thành hiện tượng phổ biến trong phong tục tập quán của người Trung Quốc ngày xưa. Ngoài việc bị hạn chế tham gia các hoạt động xã hội, phụ nữ còn phải kiêng kỵ rất nhiều điều trong ngôn hành cử chỉ – cái mà người ta thường gọi là “phụ dung” Phụ nữ ngày xưa không được ngẩng đầu và ưỡn ngực khi đi ngoài đường, nếu không sẽ bị liệt vào hạng “đào hoa khắc phu”, lấn quyền nam giới, xung khắc với chồng con. Chỉ có nam giới mới được ưỡn ngực, ngẩng đâu; còn nữ giới phải cúi đầu, đi bước nhỏ, tốt nhất là nên nép vào chồng mà đi, mới phù hợp với xã hội nam quyền và được đề cao “đức hạnh”. Và để có được sự “đề cao” ấy, phụ nữ Trung Quốc xưa thường gắn những chiếc chuông đồng nhỏ xíu bên quần/ váy hoặc hài/dép của họ để điều chỉnh bước đi, người ta gọi đó là “cấm bộ”; nếu đi nhanh, những chiếc chuông nhỏ sẽ phát ra tiêng vang buộc họ phải đi chậm lại để tránh “thất lễ”.

Tộc Hán ngày xưa yêu cầu phụ nữ “mục bất tà thị” (mắt không nhìn nghiêng), “lẩu bất lộ hài” (đi không để lộ hài), “ngôn bất lộ xỉ, ngoại bất lộ diện” (nói không hở răng, ra ngoài không để lộ mặt). Nghệ thuật gia kinh kịch là Trình Thạc Thu nói về khiêu tử (trâm hình đòn gánh) trên mũ phương của phụ nữ quý tộc và ngải diệp kiềm tử (kẹp hình lá ngải) của phụ nữ dân gian như sau: “Tác dụng của khiêu tử trên mũ phượng của phụ nữ quý tộc cũng tương tự tác dụng của ngải diệp kiềm tử đeo bên tai của những phụ nữ dân gian thời phong kiên. Ngải diệp kiềm tử rất dài, rủ xuống dưới tai, đong đưa hai bên má, như là một thứ trang sức rất đẹp, nhưng kỳ thực nguyên ý của nó hoàn toàn không đơn thuần chỉ là đẹp, mà còn là một loại hình cụ hạn chế tự do của người phụ nữ. Bởi khi đã mang “hình cụ” ấy thì cổ ngay đơ, nếu quay qua phải hoặc qua trái cũng sẽ bị khiêu tử đánh vào má. Ngải diệp kìm tử của những phụ nữ bình thường cũng như vậy” (Trình Thạc Thu văn tập).

Phụ nữ tộc Cảnh Pha khi ngôi kỵ chống cằm, vì người ta tin rằng đó là tư thế ai điếu, không tốt; kỵ ngồi bệt chéo chân, bởi theo họ, như vậy là bất nhã, là biểu hiện của sự “không an phận thủ thường”. Ngày xưa, phụ nữ cũng kỵ ngồi kiểu “cơ cứ’ (xoạc/dạng chân). Sách Lễ ký viết: “toạ vô cơ” (ngồi không được dạng chân). Có người khảo chứng nguồn gốc của quan điểm “toạ vô cơ”, nói rằng đó là vì ngày xưa thân dưới của y phục chưa được kín đáo, chọ nên người ta kỵ ngồi dạng chân, sợ để lộ hạ thể và phạm vào tội “đại bất kính” với người đối diện; các sách Hàn thi ngoại truyện và Liệt nữ truyện đều có ghi chép về việc này. Không những bị trói buộc trong hành động cử chỉ và lời nói, mà ngay cả khi ngủ cũng có những điều phụ nữ phải kiêng kỵ.Tục ngữ Trung Quốc có câu: “Nam nhân han điền trang, nữ nhân han không phòng” (Đàn ông ngủ ngáy: giàu sang, đàn bà ngủ ngáy: lỡ làng cuộc sống độc thân), nghĩa là nữ giới kỵ ngủ ngáy, vì người ta cho rằng đó là tượng trưng của điều không tốt lành, là phải ở giá hoặc sát phu.

Những áp chế và kì thị đối với phụ nữ thời phong kiến - Ảnh 1

Dân gian Trung Quốc có quan niệm nam tôn nữ ti, chẳng hạn như câu đồng dao: “Nam nhân đại trượng phu, nữ nhân tiểu đậu phụ” còn lưu truyền rộng rãi đến tận ngày nay. Trên cơ sở tư tưởng này, dân gian có rất nhiều tín điều kiêng kỵ đối với tôn ti nam nữ. Ví dụ khi nam giới đang ở lầu dưới, nữ giới kỵ lên lầu trên, nếu nhất thiết cần lên, thì phải ra hiệu để người đàn ông ở dưới tránh đi. Các dân tộc A Xương và Bố Y đều có tập tục này. Hơn nữa, phụ nữ kỵ ở lầu trên, nhất là nhũng người đã có chồng, vì sợ xung phạm đến tổ tiên. Những điều kiêng kỵ này còn lan sang cả y phục và các dụng cụ. Rất nhiều dân tộc như: Bạch, A Xương, Ngạc Ôn Khắc, Hán đều kiêng kỵ nữ giới sử dụng những vật dụng của nam giới như đòn gánh, cuốc, cày, bừa, dao, thương, yên ngựa, ách…, cũng không được giẫm đạp lên những thứ ấy. Quần áo, mũ mảng và hành lý của nam giới thì nữ giới cũng không được giẫm, đạp lên hoặc ướm thử, hay ngôi lên trên, nếu không sẽ gây bất lợi, bất hạnh và sĩ nhục cho chủ nhân của những thứ đó. Và để tránh những chuyện không hay xảy ra, người ta cũng kỵ phơi quần áo phụ nữ ở nơi lộ liễu hoặc quá cao. Thông thường, quần/váy của phụ nữ chỉ được phơi bên cạnh nhà vệ sinh.

Tính kỳ thị và áp chế đối với phụ nữ thậm chí còn chuyển hoá thành vấn đề đạo đức. Trong xã hội phong kiến, nam giới có thể năm thê bảy thiếp, còn nữ giới thì “tòng nhất nhi chung” (chỉ có một chồng), nếu người phụ nữ nào không tuân thủ quy tắc này thì bị cho là hạng “thất tiết”. Mà nữ nhân Trung Quốc xưa kỵ nhất là chuyện mang tiếng Thất tiết”, nó khiến người phụ nữ không còn dám nhìn mặt ai, cho nên người ta mới có câu: “Ngạ tử sự tiểu, thất tiết sự đại” (Chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết mới mà chuyện lớn). Ngày xưa, rất nhiều phụ nữ bị lễ giáo phong kiến bức tử vì cái “danh” ấy. Tập tục dân gian cho rằng vợ phải kính sợ chồng, còn chuyện “sợ vợ”, “không quản/dạy được vợ” được xem là hiện tượng phản phong tục, đáng chê cười. Cho nên người ta quan niệm: phụ nữ ky ương ngạnh, kỵ chống lại chồng; nam giới kỵ sợ vợ hoặc không trị được vợ. Phong tục này tồn tại ở hầu hết các dân tộc của Trung Quốc.

Tộc A Xương cho rằng: “ Phụ nữ đương gia, gia bất phú” (Phụ nữ nắm quyền trong nhà, thì nhà không giàu nổi), bởí vậy nên người ta kỵ để phụ nữ làm chủ gia đình. Tộc Thái cũng kỵ chuyện phụ nữ nắm giữ kinh tế trong gia đình. Tộc Bạch ở vùng Nhĩ Nguyên, Sơn Tây lại phổ biến câu tục ngữ: “Phụ nữ vô hầu lung, thuyết thoại bất toán số” (Phụ nữ không có yết hầu, cho nên lời nói không đáng tin). Còn người tộc Băng Long thích câu: “Khoả mã bất năng tải linh, nữ nhân bất năng tỉ nam nhân” (Ngựa cái không đeo chuông, con gái không bằng con trai). Người Hán coi thường nữ giới như đã nói rõ ở phần trên. Ngày xưa, nam giới khi giới thiệu vợ mình với người ngoài, rất hiếm khi nói là “Vợ tôi”, mà thường chỉ dùng các từ “người nhà tôi”, “người nấu ăn nhà chúng tôi”, “tiện nội”, “tào khang”… để thay thế. Và người phụ nữ xưa cũng thường không có đại danh, tức không được xưng họ tên đàng hoàng trong xưng hô giao tiếp. Khi ở nhà thì được gọi bằng họ mẹ đẻ, đến khi lấy chồng thì mang thêm họ nhà chồng.

Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, dù trong gia đình hay ngoài xã hội, phụ nữ thời xưa đều bị kỳ thị và áp chế. Hiện nay, quan niệm nam nữ bình đẳng ngày càng ăn sâu vào tư tưởng của con người, địa vị người phụ nữ cũng được nâng cao hơn, nhưng cũng chưa thể tiêu trừ được tập tục kỳ thị và áp chế phụ nữ vốn đã thâm căn cố đế hàng nghìn năm trong dân gian. Điều đó vẫn được phản ánh khá rõ trong nhiều vấn đề xã hội như sinh nở, nuôi dưỡng, học tập, nghề nghiệp…

Theo Zhongguo Minjian Jinji