Kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa

Kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa

Bí ẩn khoa học Khoa học Khoa học đời sống Sự kiện nổi bật Văn hóa Xã hội

Theo danh họ Từ, dưỡng sinh lấy thói quen sinh hoạt làm đầu, điều chỉnh những hành vi hàng ngày thiếu lành mạnh là có thể giúp con người trường thọ.

Từ ý nghĩa trong hai phương diện đối lập giữa “thần thánh” và “không sạch sẽ” bao hàm trong cấm kỵ, ta có thể thấy được rằng, cấm kỵ về máu là một cấm kỵ hoàn chỉnh nhất. Khi cúng tế hoặc khi lập đàn, thì máu dùng để cúng hiến và máu nhỏ giọt từ cánh tay bị chích khi giao bái thề thốt đều là một thứ thần thánh, mang một sức mạnh cấm ước; nhưng máu kinh của phụ nữ và máu chảy ra khi sinh đẻ thì lại bị xem là thứ ô uế, là một thứ nguy hiểm, cần phải tránh nó. Dưới đây là 5 bộ phận kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa.

Kiêng kỵ với cổ

Kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa - Ảnh 1

Dân gian tộc Hán có tục kiêng kỵ những người có chiếc cổ ngắn, cho nên có câu: “Bột cảnh đoản, bất thị què thoái, tựu thị hạt nhãn” (những người cần cổ ngắn, không cụt què thì cũng mù loà). Không biết có phải quan niệm này bắt nguồn từ việc dân gian cho rằng người cổ ngắn thì không linh hoạt hay không. Người cổ ngắn có vẻ khô khan, vụng về, nhưng nếu nói rằng họ sẽ tạo những khuyết tật cho con cháu đời sau như dân gian nhiều nơi vẫn tin thì rõ ràng là không đúng.

Kiêng kỵ với đôi vai

Kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa - Ảnh 2

Thời xưa, con người lao động chủ yêu dựa vào thể lực, nhất là vào đôi vai và đôi tay, cho nên vai đã trở thành tượng trưng của sức mạnh. Khi nói về người có sức khoẻ, dân gian có câu: “nhân gia đích kiên bàng đầu cao” (người có đôi vai cao lớn), trong đó hàm ý chỉ sức mạnh hơn người. Trong tập tục của dân tộc Hán, những người lớn tuổi có thể phát hoặc vỗ vai những người trẻ tuổi, nhưng những người nhỏ tuổi không được phát/vỗ vai những người lớn tuổi, vì người ta cho rằng làm như vậy là không tôn trọng bậc trưởng bối. Người dân tộc Băng Long khi gặp nhau, nam giới thường tối kỵ việc người khác vỗ vai, vì cho rằng đó là hành động khiêu khích và sỉ nhục mình.

Vai cũng là một trong những nơi nhạy cảm nhất trên thẩn thể con người. Cho nên người tộc Hán quen gọi việc nam nữ tán tỉnh nhau là “điệu bàng tử’ (vũ điệu của đôi vai). Nam giới kiêng đụng chạm vào vai của nữ giới. Người tộc A Xương cũng kỵ việc nam giới vịn hoặc tì vào vai nữ giới, cho rằng đó là hành động không có hảo ý. Dân tộc Ngạc Ôn Khắc lại kiêng ky việc cơ thịt trên vai rung, giật; bởi họ cho rằng đó là điềm cực xấu: nội trong ba ngày người bị hiện tượng trên sẽ phải vong mạng!

Kiêng kỵ với ngực

Kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa - Ảnh 3

Phụ nữ dân gian Trung Quốc xưa cấm kỵ để lộ thân thể, đặc biệt là để lộ bộ ngực. Ngày xưa, khi mặc y phục, người phụ nữ phải mang thêm chiếc khăn hoặc vạt áo lớn che phủ phần ngực cho kín đáo. Điều này không đơn giản chỉ vì sợ lộ ngực sẽ gây quyến rũ nam giới, mà thậm chí người ta còn tin rằng, nếu để nam giới nhìn chăm chăm vào ngực, thì người phụ nữ ấy sẽ có thể mang thai. Theo sự phát triển ngày càng cao của xã hội, ngày nay tuy việc để lộ ngực ở người phụ nữ không còn gắt gao và khe khắt như xưa, nhưng người ta cũng đã dám thể hiện những đường cong của bộ ngực, thậm chí có khi còn dám phô diên cả nửa bộ ngực của mình, nhưng nói chung, việc để ngực trần vẫn là điều dân gian hết sức kiêng tránh.

Với phụ nữ, bộ ngực có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, đó là khu vực mẫn cảm về tính, đồng thời cũng là một khí quan vô cùng quan trọng đối với việc chăm sóc con cái. Bởi vậy, việc cấm kỵ tuỳ tiện đụng vào ngực người phụ nữ đã trở thành quy ước, tập tục tồn tại khá phổ biên ở các dân tộc. Nhưng, trong thời kỳ lịch sử chưa có hoặc còn khiếm khuyết tính tri thức và tính khoa học, thì việc giải thích của dân gian đối với những điều kiêng ky đụng chạm vào bộ ngực của người phụ nữ không phù hợp với nguyên tắc khoa học, mà mới chỉ là một loại “tục lý” (cách lý giải mang tính dân gian). Ví dụ trong “Thanh bái loại sao” có chép dật sự “Lương nhân thiện ca” (Người tốt hát hay) chính là phản ánh một “lý do” giải thích tục dân gian kiêng ky đụng chạm vào bộ ngực của người phụ nữ.

Kiêng kỵ với tim

Kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa - Ảnh 4

Phần “Giải tế thiên” trong sách Tuân Tử viết: “tâm giả, hình chi quân dã nhi thần minh chi chủ dã”. Theo Tuân Tử, tâm (tim) là chủ điều khiển hình thể, mà hình thể không thể điều khiển chi phối tâm. Dân gian có câu “tâm linh thủ xảo” (tim linh động thì tay khéo léo), hoặc “tâm khứ nan lưu” (tim ngừng thì khó sống) v.v… đều là nói về sự quan trọng của tim đối với con người. Tim đập liên tục, và mỗi khi gặp đều gì kinh ngạc, hồi hộp hoặc nguy hiểm, thì nó lại đập nhanh và mạnh hơn, dân gian Trung Quốc gọi ấy là “tâm khiêu” (tim nhảy).

“Tim nhảy” lại thường liên quan đến những điều nguy hiểm không tốt cho con người, cho nên “tim nhảy” trở thành một điều đại ky trong dân gian, nhất là nhũng trường hợp tim nhảy liên tục không ngừng. Người ta tin rằng tim nhảy có khi là hung, cũng có khi là cát. Dân gian Đài Loan kỵ tim nhảy đột ngột vào giờ Sửu (1 đến 3 giờ sáng) và giờ Hợi (9 đến 11 giờ tối), vì người ta cho đó là hung triệu, cần hết sức kiêng tránh.

Kiêng kỵ với sinh thực khí

Kiêng kỵ với cổ-vai-ngực-tim và sinh thực khí của người xưa - Ảnh 5

Khí quản sinh thực của con người là nơi tối kỵ để lộ. Thông thường, với con gái thì đến khoảng 4 tuổi, với con trai vào khoảng 7 – 8 tuổi là không được mặc quần không đáy nữa. Đến khi thành niên, nếu để lộ sinh thực khí trước mặt ai đó, thì chính là hành vi xúc phạm, sỉ nhục người đó và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Yêu cầu cấm kỵ này đối với nữ giới nghiêm ngặt hơn so với nam giới. Ngày xưa, nếu người phụ nữ nào không cẩn thận, để lộ sinh thực khí trước mặt người khác, thì có thể tự sát vì xấu hổ. Những người khác giới cũng kiêng kỵ nhìn thấy sinh thực khí của nhau. Ở nơi công cộng, kiêng kỵ nói đến những từ ngữ liên quan đến sinh thực khí.

Theo quan niệm của dân gian, sinh thực khí có tính “bất khiết” (không sạch sẽ), cho nên những từ ngữ nào dính dáng đến sinh thực khí, dân gian gọi là “tang thoại” (lời lẽ hạ tiện, bẩn thỉu). Và những đồ vật nào tiếp xúc với sinh thực khí như đồ lót, bô, nhà vệ sinh… đều tục gọi là “uế vật” (những vật ô uế), “uế địa” (nơi dơ bẩn). Đối với tất cả những thứ ấy, người ta phải kiêng tránh. Nhưng đồng thời, sinh thực khí còn có tính chất thần thánh. Trong dân gian, có rất nhiều di chỉ, di vật về việc sùng bái sinh thực khí của cả nam và nữ.

Ngày xưa, các thái giám có một tục lệ mang tính truyền thống, là sau khi “tịnh thân” (hoạn), họ đem “bảo bối” đã bị cắt của mình sấy qua, sau đó dùng giấy dầu bọc lại, để trong một cái “thăng” đặt ở nơi cao ráo tĩnh lặng trong nhà. Ý nghĩa trong việc đặt “bảo bối” của người thái giám vào một cái hộp gọi là “thăng” cũng nhằm chúc cho anh ta mau thăng quan tiến chức. Khi người thái giám sắp chết, người nhà đem “bảo bối” ấy gắn lại cho anh ta; và việc này nhất định không được quên hoặc bỏ qua. Bởi người ta cho rằng, khi sống “lục căn” (chỉ các khí quan, bộ phận trên cơ thể) của anh ta đã không toàn vẹn, thì kiếp sau khó có thể có được một thân thể vẹn toàn. Bởi vậy, người ta hết sức kiêng tránh việc vứt bỏ hoặc làm mất “bảo bối”!

Nguồn tổng hợp